Chế Độ Bảo Hiểm

Định nghĩa bảo hiểm

Bảo hiểm là một chế độ bồi thường về mặt kinh tế, trong đó người bảo hiểm cam kết sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm những tổn thất của đối tượng bảo hiểm do các rủi ro đã thoả thuận gây ra, với điều kiện người được bảo hiểm đã đóng một khoản tiền, gọi là phí bảo hiểm cho đối tượng bảo hiểm và theo điều kiện bảo hiểm đã quy định.

Nguyên tắc của Bảo hiểm

Nguyên tắc chỉ bảo hiểm sự rủi ro

Người bảo hiểm chỉ nhận bảo hiểm mọi rủi ro tức là bảo hiểm các sự cố tai nạn, tai hoạ xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên ngoài ý muốn của con người chứ không bảo hiểm một cách chắc chắn xảy ra, đương nhiên xảy ra cũng chỉ bồi thường những thiệt hại mất mát do rủi ro gây ra chứ không phải là chắc chắn xảy ra.

Nguyên tắc trung thực tuyệt đối (utmost good faith):

Thực hiện nguyên tắc này có nghĩa là người bảo hiểm và người được bảo hiểm tuyệt đối trung thực với nhau, tin tưởng lẫn nhau và không trục lợi lẫn nhau, một trong hai bên vi phạm điều này thì hợp đồng bảo hiểm không có hiệu lực.

Nguyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm (insurable interest):

Theo nguyên tắc này, người được bảo hiểm muốn mua bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm. Lợi ích bảo hiểm có thể là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm.

Trong bảo hiểm hàng hải, lợi ích bảo hiểm không nhất thiết phải có khi ký kết hiệp đồng nhưng nhất thiết phải có khi xảy ra tổn thất. Lợi ích bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn bó với hay phụ thuộc vào sự an toàn của đối tượng bảo hiểm.

Nguyên tắc Bồi thường (Indemnity)

Theo nguyên tắc bồi thường, khi có tổn thất xảy ra, người bảo hiểm phải bồi thường như thế nào đó để đảm bảo cho người được bảo hiểm có vị trí tái chính như trước khi có tổn thất xảy ra, không hơn không kém. Các bên không được lợi dụng bảo hiểm để trục lợi. Mục đích của nguyên tắc bồi thường là khôi phục lại một phần hoặc toàn bộ tình trạng tài chính như trước khi xảy ra tổn thất cho người được bảo hiểm. Nguyên tắc bồi thường đảm bảo người được bảo hiểm không thể nhận được số tiền chi trả nhiều hơn giá trị tổn thất mà họ gánh chịu. Trách nhiệm bồi thường của công ty bảo hiểm cũng chỉ phát sinh khi có thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm gây ra.

Nguyên tắc Thế quyền (Subrogation)

Người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm thì có quyền đòi bên thứ ba bồi thường lại cho mình nếu có (điều 231 Luật Hàng Hải Việt Nam và Điều 79 của MIA 1906).

Theo nguyên tắc thế quyền, người bảo hiểm sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm, có quyền thay mặt người được bảo hiểm để đòi người thứ ba trách nhiệm bồi thường cho mình. Trong bảo hiểm thiệt hại, nguyên tắc bồi thường đã xác định người được bảo hiểm không thể nhận được số tiền bồi thường nhiều hơn giá trị tổn thất mà mình gánh chịu.Ví dụ: Ô tô du lịch 4 chỗ được bảo hiểm đúng giá trị, bị xe tải đâm va gây thiệt hại phải sửa chữa, thay thế như trước lúc xảy ra tai nạn và được công ty bảo hiểm bồi thường với số tiền bảo hiểm 35.000.000 đồng. Lỗi cảnh sát giao thông xác định xe tải 70%, xe con 30%. Ở đây, công ty bảo hiểm đã hoàn thành cam kết của mình với người được bảo hiểm là bồi thường đúng giá trị tổn thất. Sau khi đã nhận đủ tiền bồi thường, người được bảo hiểm phải bảo lưu quyền đòi lại phần trách nhiệm của bên thứ ba (ở ví dụ trên là phía xe tải) cho công ty bảo hiểm.

Như vậy, thế quyền đòi bồi hoàn là nguyên tắc mà theo đó: Sau khi bồi thường cho người được bảo hiểm mà một bên khác (bên thứ 3) phải chịu trách nhiệm về chi phí, tổn thất đó, Công ty bảo hiểm sẽ được hưởng mọi quyền lợi hợp pháp của người được bảo hiểm để giảm bớt tổn thất.

Rủi ro là những tai nạn, tai họa hay sự cố xảy ra một cách bất ngờ, ngẫu nhiên hoặc những mối đe dọa khi xảy ra sẽ gây tổn thất cho đối tượng bảo hiểm. Rủi ro rất đa dạng và tình huống xảy ra cũng rất bất ngờ. Căn cứ vào các tiêu chí sau đây để phân loại rủi ro:

+ Căn cứ vào nguồn gốc sinh ra rủi ro

  • Thiên tai (Act of God): là những hiện tượng tự nhiên mà con người không chi phối được như động đất, lụt lội, sóng thần ….
  • Rủi ro hàng hải (Perils of the sea): Là những tai nạn xảy ra đối với hoạt động ở ngoài biển như tàu bị mắc cạn, đâm va, cháy, nổ, lật úp, mất tích …
  • Rủi ro khác: Ngoài những nguyên nhân xảy ra rủi ro không kiểm soát ở trên còn có những rủi ro bất ngời khác xảy ra như: vỡ hàng khi vận chuyển trên bờ, mất trộm, mất cắp, hao hụt …
  • Ngoài ra, có những rủi ro đặc biệt như chiến tranh, đình công, khủng bố, do bản chất hàng hóa ….

+ Xét về phạm vi được bảo hiểm

  • Rủi ro được bảo hiểm bao gồm

Rủi ro được bảo hiểm thông thường: Là các rủi ro được các bên chấp nhận theo các thông lệ thông thường như các điều kiện A, B và C bao gồm những rủi ro có tính chất bất ngờ và ngẫu nhiên xảy ra ngoài ý muốn của con người. Rủi ro được bảo hiểm thông thường gồm những rủi ro thiên tai, rủi ro hàng hải và các rủi ro khác xảy ra trong quá trình vận chuyển, bốc xếp.

Rủi ro được bảo hiểm riêng: Là những rủi ro được tách riêng ra cho các bên có thể thỏa thuận riêng khi mua bảo hiểm bao gồm các rủi ro đặc biệt như rủi ro chiến tranh, đình công, khủng bố …

  • Rủi ro không được bảo hiểm: Là những rủi ro đương nhiên xảy ra hoặc chắc chắn xảy ra, do lỗi của người được bảo hiểm gây nên… Rủi ro này không được bảo hiểm trong mọi trường hợp nên gọi là trường hợp miễn thường khi nó chắc chắn xảy ra

Tổn thất trong bảo hiểm hàng hóa

Tổn thất là những thiệt hại, hỏng, mất mát của đối tượng bảo hiểm do rủi ro gây ra. Rủi ro là những điều người mua bảo hiểm lo lắng sẽ xảy ra còn tổn thất là những hiện thực đã xảy ra.

Nên rủi ro là căn cứ để mua bảo hiểm thì tổn thất là căn cứ để bồi thường. Thông thường tổn thất được chia ra các loại sau đây:

Căn cứ vào mức độ tổn thất:

+ Tổn thất bộ phận (Partial loss) là một phần của đối tượng bảo hiểm bị hư hại, mất mát, thiệt hại. Tổn thất bộ phận có thể xảy ra về số lượng, phẩm cấp, chất lượng, giá trị. Tổn thất bộ phận sẽ làm mất một phần giá trị của đối tượng bảo hiểm nên đối tượng bảo hiểm vẫn còn có giá trị sử dụng theo một khía cạnh nào đó. Nếu tổn thất một phần nhưng đối tượng không thể khắc phục hay sử dụng thì không được xem xét là tổn thất bộ phận.

Tổn thất toàn bộ (Total loss) là toàn bộ đối tượng bảo hiểm bị hư, hỏng, mất mát và thiệt hại hoặc không thể khắc phục, sử dụng đối tượng đó.  Tổn thất toàn bộ có thể chia làm hai loại chính là:

Tổn thất toàn bộ thực sự là toàn bộ đối tượng bảo hiểm bị hư, hỏng, mất mát, thiệt hại hoặc bị biến chất không còn như ban đầu lúc được bảo hiểm và không lấy lại được nữa;

Tổn thất toàn bộ ước tính là hư, hỏng, mất mát, thiệt hại của đối tượng bảo hiểm chưa đến mức toàn bộ nhưng đối tượng đó không thể khắc phục, sử dụng được nữa nên bị từ bỏ một cách hợp lý, ví dụ như chi phí bỏ ra khắc phục sửa chữa lớn hơn giá trị thực của đối tượng, phần giá trị còn lại không đáng giá thu hồi. Trong những trường hợp đó, tổn thất toàn bộ ước tính được coi như tổn thất toàn bộ. Nếu thực hiện việc coi tổn thất ước tính như tổn thất toàn bộ thì người được bảo hiểm phải thực hiện nghiệp vụ từ bỏ hàng.

Căn cứ vào tính chất tổn thất:

Tổn thất chung: là tổn thất cho sự an toàn chung, sự hy sinh cho các lợi ích chung hay nguy hại chung. Tổn thất chung là những tổn thất của một hay một số người được bảo hiểm cho mục đích chung của tất cả những người bảo hiểm khác còn lại. Tình huống vứt hàng tránh tàu biển bị đắm, máy bay bị rơi ….  được coi là những tổn thất chung. Vậy, tổn thất chung là những hy sinh hay chi phí đặc biệt được tiến hành một cách cố ý hợp lý nhằm mục đích thoát khỏi sự nguy hiểm chung thực sự. Hành đồng tổn thất chung khi và chỉ khi có sự hy sinh hoặc chi phí phi thường được cùng hành động một cách cố ý hợp lý. Do đó, đặc trưng của tổn thất chung phải thể hiện như sau:

Hành động tổn thất chung phải là hành động hữu ý, tự nguyện của chủ phương tiện và đồng đội;

  • Hy sinh hoặc chi phí phải là đặc biệt và phi thường – là chi phí bất thường có ý nghĩa và nhiệm vụ cao cả;
  • Hy sinh hoặc chi phí hợp lý vì an toàn và quyền lợi chung. Nếu hy sinh quá hoặc chi phí quá mắc cần thiết thì được coi là không hợp lý;
  • Mất mát, thiệt hại hoặc chi phí do hành động chung trực tiếp gây ra
  • Hy sinh cho tổn thất chung (G/A sacrifices) là những thiệt hại trực tiếp của một hành động tổn thất chung như vứt hàng xuống biển, đốt sản phẩm làm nhiên liệu ….

Chi phí tổn thất chung (G/A expenditure) là những chi phí phải trả cho bên thứ ba trong việc cứu giúp phương tiện hay hàng hóa. Thông thường, đối với đường biển sẽ có các chi phí cứu nạn, chi phí trục vớt, chi phí tại cảng lánh nạn, tiền lãi phát sinh chia cho chi phí tổn thất chung

Tổn thất riêng: Là những thiệt hại, mất mát của đối tượng bảo hiểm do một rủi ro bất ngờ, ngẫu nhiên gây ra. Tổn thất riêng có thể là tổn thất bộ phận hay toàn bộ nhưng xảy ra bất ngờ và ngẫu nhiên đối với ai thì người đó chịu tổn thất.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

EnglishJapaneseVietnamese
Contact Me on Zalo
0904.1779.514